Nhiệt đông cao tần và áp lạnh trong điều trị tắc nghẽn nội khí q
Ngày đăng: 23/01/2018 04:36:02
Lượt xem: 174
Bệnh nhân Trần V. T. (45 tuổi, TP.HCM) đang điều trị ung thư phổi ở phế quản gốc trái. Trước khi nhập viện, bệnh nhân ho khạc ra đàm, mủ, đau ngực, sốt, khó thở.

Tại BV. Phạm Ngọc Thạch (TP.HCM), bệnh nhân đã được chỉ định điều trị bằng phương pháp áp lạnh qua soi phế quản ống cứng dưới gây mê toàn thân. Khối u đã được hỦY và đường thở hoàn toàn được làm thông thoáng. Triệu chứng ho khạc đàm mủ, sốt biến mất nhanh với trị liệu kháng sinh.

Tắc nghẽn nội khí quản do u, hoặc lành tính, hoặc ác tính, có thể dẫn đến viêm phổi, xẹp phổi, suy hô hấp và tử vong. Trong phần lớn các trường hợp, cắt bỏ tổn thương gây tắc nghẽn là không thể thực hiện được. Phá bỏ hoàn toàn khối u để làm thông thoáng đường thở là phương pháp điều trị giảm nhẹ thích hợp cho những bệnh nhân này. Các kỹ thuật điều trị giảm nhẹ hiện đang được áp dụng tại BV. Phạm Ngọc Thạch gồm điều trị áp lạnh (cryotherapy) và nhiệt đông cao tần (electrocoagulation) qua nội soi phế quản ống mềm hay ống cứng.

Chọn lựa phương tiện để thực hiện tùy thuộc mức độ tắc nghẽn đường thở do u nội khí phế quản, khả năng dung nạp gây mê toàn thân của bệnh nhân, và kinh nghiệm của thủ thuật viên. Phương pháp soi phế quản ống cứng có giá trị đối với u nội khí phế quản kích thước lớn, bệnh nhân có nguy cơ xảy ra suy hô hấp, vì vậy ưu tiên trong những trường hợp lâm sàng này là kiểm soát nhanh tình trạng chảy máu và nhu cầu phá hủy u nhanh để làm thông thoáng đường thở, đảm bảo thông khí tốt. Kỹ thuật soi phế quản ống mềm, có thể thực hiện an toàn dưới gây tê tại chỗ, có giá trị trong những trường hợp u nội phế quản nằm ở vị trí ngoại biên.

Nhiệt đông cao tần là một phương pháp điều trị rẻ tiền và hiệu quả để phá hủy u, làm thông thoáng đường dẫn khí và có thể dùng để điều trị một vài sang thương lành tính. Nhiệt đông có thể phá hủy mô và làm mất tổn thương gây tắc nghẽn khí đạo chỉ trong 1 lần thực hiện thủ thuật. Trong ung thư phế quản, nhiệt đông cao tần có thể có sự cộng hưởng hiệu quả khi kết hợp với xạ trị. Còn áp lạnh là kỹ thuật đơn giản, không biến chứng, khung phế quản được bảo tồn. Hoại tử hoàn toàn mô đạt được sau 8 - 10 ngày. Áp lạnh được chỉ định để điều trị những u dạng chồi khí phế quản không có yêu cầu điều trị cấp cứu, những ung thư phế quản tại chỗ.

Nhiệt đông cao tần và áp lạnh trong điều trị  tắc nghẽn nội khí quảnBệnh nhân đến khám tại BV. Phạm Ngọc Thạch

Nhiệt đông cao tần sử dụng dòng điện để tạo nhiệt và phá hủy mô. Nhiệt đông cao tần có thể phá hủy nhanh khối u trong vài giây, vì thế đây là biện pháp hợp lý để làm giảm một tình trạng suy hô hấp sắp xảy ra. Để loại bỏ khối u lớn, có thể dùng đầu dò nhiệt đông dạng thòng lọng. Ngay cả khi tổn thương không phải dạng u có cuống (polyp), đầu dò thòng lọng vẫn có thể thực hiện tốt nhiệm vụ phá hủy nhanh khối u nếu thòng lọng vừa khít với khối u. Mô bị cắt ra có thể được thắt lại bởi vòng thòng lọng hay kẹp bằng kìm để lấy ra. Các mảnh vụn nhỏ hơn sẽ được bệnh nhân khạc ra. Nhiệt đông cao tần còn được chỉ định để lấy dị vật, nút nhầy hay cục máu đông. Trong số các tắc nghẽn lòng khí phế quản do u ác tính, tỉ lệ phá hủy u bằng nhiệt đông cao tần thành công đạt 70 - 90%, có nghĩa là phá hủy > 50% thể tích khối u. Một báo cáo lâm sàng 8/11 trường hợp khối u tại nội phế quản đã được điều trị thành công với thời gian theo dõi 7 - 52 tháng. Nghiên cứu tại BV. Phạm Ngọc Thạch cho thấy kỹ thuật nhiệt đông cao tần phá hủy và làm thông thoáng hoàn toàn đường thở cho 92,9% bệnh nhân và làm giảm nhẹ triệu chứng khó thở trong 100% trường hợp. Biến chứng hiếm gặp, thường liên quan đến chảy máu, thường lượng ít.

Áp lạnh và nhiệt đông cao tần đều có hiệu quả làm giảm nhẹ triệu chứng khó thở

 

Áp lạnh sử dụng N2O để tạo lạnh phá hủy mô sống, là một kỹ thuật đơn giản, không biến chứng, khung phế quản được bảo tồn. Tai biến do điều trị áp lạnh trong lòng đường dẫn khí ít xảy ra hoặc không đáng kể. Điều trị áp lạnh còn có chỉ định dùng lấy dị vật, nút niêm dịch, cục máu đông, điều trị mô hạt, hay kết hợp với các trị liệu khác (nong bằng bóng, đặt stent) và để điều trị một số u lành đường dẫn khí. Điều trị áp lạnh nội phế quản còn được dùng điều trị triệu chứng cho cả bệnh lý ác tính nguyên phát và thứ phát. Ứng dụng điều trị phương pháp này tại BV. Phạm Ngọc Thạch cho thấy sử dụng kỹ thuật áp lạnh qua soi phế quản làm thông thoáng hoàn toàn đường thở cho 92,6% trường hợp và làm thông thoáng trên 75% đường dẫn khí trung tâm. Nếu định nghĩa điều trị áp lạnh thành công là phá huỷ trên 50% thể tích khối u, tỉ lệ thành công đạt đến 100%. Áp lạnh có thể được ứng dụng nhiều lần, và kết hợp với hóa trị hoặc xạ trị.

Trong ung thư phế quản, cả áp lạnh và nhiệt đông cao tần đều có sự cộng hưởng hiệu quả khi kết hợp với xạ trị; có thể có hiệu ứng hiệp đồng khi sử dụng điều trị kết hợp áp lạnh với hóa trị và/hoặc xạ trị. Nghiên cứu tại BV. Phạm Ngọc Thạch cho thấy kỹ thuật nhiệt đông cao tần và áp lạnh đều làm giảm nhẹ triệu chứng khó thở trong 100% trường hợp; không ghi nhận bất cứ tai biến nào liên quan đến thủ thuật nội soi can thiệp bằng hai kỹ thuật này.

TS.BS. NGUYỄN HỮU LÂN

Rất hân hạnh được nghe ý kiến đóng góp của bạn về sản phẩm này.
Thông báo

Vui lòng nhập thông tin trước khi bình luận

  • Email:
  • Họ tên:
Thông báo

Bạn chưa nhập nội dung

Bài viết khác